Tiếp tục Series “Ai cũng chơi được mâm than”, Audio LAB tiếp tục chia sẻ về tay cần – tonearm, một bộ phận vô cùng quan trọng, thậm chí được xem là quyết định rất nhiều đến chất lượng trình diễn của mâm than cùng với cách set-up cơ bản tay cần.
![[Ai cũng chơi được mâm than] Phần 2: Tìm hiểu tay cần tonearm và cách cân chỉnh cơ bản](https://medialab.com.vn/wp-content/uploads/2023/04/Ai-cung-choi-duoc-mam-than-Phan-2-Tim-hieu-tay-can-tonearm-va-cach-can-chinh-co-ban-Media-LAB.jpeg)
Tonearm là một bộ phận giữ cố định kim cartridge từ đó di chuyển trên bề mặt đĩa than với đầu kim luôn nằm ở trong rãnh đĩa, tay cần phải là một giá đỡ chắc chắn cho cartridge nhưng phải đủ nhẹ để dễ dàng lách theo những đường xoáy bên trong bề mặt rãnh đĩa giúp kim đọc được các tín hiệu âm thanh nhỏ tốt nhất. Khi nhắc đến tonearm chúng ta phải biết đến những thuật ngữ sau đây: VTF (lực tì của kim), VTA (góc tì dọc của kim), Azimuth (độ nghiêng 2 bên của kim so với rãnh đĩa), Anti-skating (độ kháng lực của tay cần) và với một chiếc tay cần dù đắt hay rẻ, có thiết kế cân bằng kiểu gì đi chăng nữa thì nó cũng sẽ có một vài thành phần cơ bản như sau: headshell (gắn kim cartridge), armtube (phần tay cần), anti-skate adjust (núm chỉnh kháng lực), counterweight (tạ cân bằng), bearing (ổ đỡ tay cần).
Về cơ chế cân bằng của những tay cần ở trên thị trường hiện nay thì sẽ có nhiều thế nhưng cơ bản sẽ thường gặp một vài mẫu như cơ chế gimbal, uni-pivot, linear tracking/ parallel (tay cần tuyến tính/ song song), mẫu tay cần thường gặp nhiều nhất là cơ chế gimball và cơ chế uni-pivot.
Thiết kế gimbal tornarm thì đây là loại cơ chế thường gặp nhiều nhất trên thị trường hiện nay với đặc điểm là có một hệ thống treo với các ổ trục, ưu điểm là dễ lắp đặt, giá thành rẻ và hoạt động ổn định, tuy nhiên cũng có vài nhược điểm như độ ma sát cao so với các tay cần khác mặc dù những ổ trục đã được cải tiến hơn, thêm vào đó cần phải bảo dưỡng thường xuyên để ổ trục không bị cứng.
Tiếp theo là Uni-pivot, đặc điểm nhận biết của loại tornarm này là được đặt cân bằng trên một đầu tiếp xúc nhỏ và có chống rung bằng silicon lỏng, ưu điểm là độ ma sát gần như bằng không giúp cho kim hoạt động mượt mà và đọc được tín hiệu nhỏ nhất ở trên những rãnh của đĩa than nhờ đó cũng không cần phải bảo dưỡng ổ trục thường xuyên như gimball. Thế nhưng Uni-pivot cũng có một vài nhược điểm là khó lắp đặt và chi phí cao
Đối với những tay cần thường thấy sẽ được sử dụng vật liệu là nhôm, nhựa hay vật liệu ưu việt hơn là sợi carbon vừa đủ độ cứng mà còn đảm bảo trọng lượng nhẹ nhàng giúp kim hoạt động linh hoạt khi đọc những tín hiệu trên rãnh đĩa. Có một số tay cầm dạng thẳng hay tay cầm cong hoặc hình chữ S với kích thước khác nhau như 7 inch, 9 inch hoặc 12 inch. Trở về thời điểm xa xưa khi mà những mẫu ổ trục trên thị trường chưa quá tốt thì người ta ưu tiên sử dụng những tay cầm cỡ dài cụ thể là mẫu 12 inch bởi vì qua khá nhiều bài test, các audiophile nhận ra rằng mẫu 12 inch cho khả năng giảm nhiễu tốt hơn và độ ổn định ngon hơn khi sử dụng những mẫu tay cần ngắn. Nhưng sau một khoảng thời gian dài, các audiophile lại nhận ra với những mẫu tay cần dài thì việc dập tắt dao động khi mà đọc những tín hiệu trên đĩa lại chậm hơn so với những mẫu tay cần ngắn, do khi di chuyển trong rãnh đĩa thì tay cần không chỉ lắc ngang mà còn lên xuống nữa nên những mẫu tay cần dài chỉ cần dao động nhỏ thôi đã lắc rất nhiều so với những mẫu tay cần ngắn. Về sau những ổ trục trên tay cần được phát triển tốt hơn thì những mẫu tay cần ngắn lại được ưa chuộng hơn nhưng không phải mẫu 7 inch mà là 9 inch đảm bảo được độ ổn định lẫn trọng lượng mà vẫn mang lại được những trải nghiệm tốt.
Cân tay cầm cho mâm than
Với cân tay cần sẽ cần những bước như sau:
- Cân bằng lực cho tay cần
- Cân chỉnh chiều cao của tay cần hay còn gọi là cân chỉnh góc tì dọc của kim
- Chỉnh Azimuth
- Chỉnh kháng lực cho tay cầm
- Chạy đĩa
Đầu tiên chúng ta phải sử dụng thước thủy cân bằng đặt trên bề mặt mâm than, nếu đã phẳng thì tiếp theo sẽ chỉnh tay cần về trạng thái cân bằng, cân bằng là khi để trạng thái tự nhiên thì phần tạ đằng sau và phần trước tay cần sẽ nằm trên một đường thẳng, không bị nghiêng lên hoặc xuống. Sau khi tay cần ở trạng thái cân bằng thì chúng ta sẽ siết phần tạ vào sao cho kim ép xuống một lực bằng 1g ở trên cân tiểu ly. Tiếp đó sẽ chỉnh độ cao của tay cần sao cho tay cần nằm song song với bề mặt đĩa than và kim sẽ tạo một góc từ 15-20 độ tùy theo mẫu kim đang sử dụng là gì.
Những mẫu mâm than phổ thông sẽ không có tinh chỉnh độ cao vì tất cả mọi thứ đó đã được nhà sản xuất lắp đặt và để ở một chiều cao tối ưu nhất giúp cho chúng ta chơi được ngay mà không cần làm gì nhiều. Còn với những mẫu tay cần Hi-end, Ultra Hi-end thì phải tinh chỉnh độ cao và những bước tinh chỉnh này đã được Audio LAB chia sẻ rồi.
Tiếp theo là chỉnh Azimuth, với những mẫu mâm than phổ thông cũng sẽ không chỉnh được Azimuth do đã được cố định sẵn và chỉ chỉnh trên những mẫu tay cần Hi-end. Có 2 cách chỉnh Azimuth, một là sử dụng kính lúp soi vào phần kim và tinh chỉnh cân bằng hai bên sao cho kim nằm chính giữa rãnh của đĩa than, cách thứ hai là cắm tín hiệu của mâm than ra một thiết bị điện tử bên ngoài và cân bằng theo kim VU đang test khi đó sẽ chỉnh sao cho tín hiệu của hai bên cân bằng với nhau là được.
Đối với mỗi mẫu tay cần khác nhau chúng ta sẽ có cách chỉnh khác nhau chẳng hạn như mẫu tay cần uni-pivot sẽ có một cục ta treo ở trên một sợi dây và vắt nó qua từng nấc một, còn với mẫu tay cần như thế này ta chỉ cần vặn núm anti-shaking là được.
Bước cuối cùng rất quan trọng, chúng ta phải sử dụng cân tiểu ly và tinh chỉnh lực tì của kim sao cho đúng với lực mà nhà sản xuất khuyến cáo ví dụ như một vài mẫu kim đến từ Otoform thì nhà sản xuất khuyến cáo lực tì của nó từ 1,5-1,7g nên chúng ta cần lưu ý đọc sách hướng dẫn mà nhà sản xuất ra khi mua bất kỳ mẫu kim nào.
Tham gia thảo luận chủ đề này tại đây bạn nhé: Click here


![[Ai cũng chơi được mâm than] Phần 3: Platter và cơ chế truyền động của mâm than](https://medialab.com.vn/wp-content/uploads/2023/04/Ai-cung-choi-duoc-mam-than-Phan-3-Platter-va-co-che-truyen-dong-cua-mam-than-Media-LAB.jpeg)

