Ampli Telos 2800 của Goldmund không đơn thuần là một thiết bị khuếch đại công suất. Đó là kết quả của hơn ba thập kỷ tinh luyện công nghệ Telos, là đại diện của triết lý Apollonian về âm thanh – nơi sự kiểm soát, trung thực và trật tự được đẩy đến đỉnh cao. Với mức giá gần 300.000 USD mỗi cặp, Telos 2800 không dành cho số đông, nhưng sẽ làm thay đổi hoàn toàn định nghĩa của bạn về sự “trong suốt” trong âm nhạc.
(Bài review được lược dịch giữ nguyên tinh thần bài viết gốc của tác giả Jim Austin đăng trên tạp chí Stereophile)
Friedrich Nietzsche đã phân biệt hai cách tiếp cận văn hóa: hệ Apollonian (thần Apollo), đặc trưng bởi trật tự và lý tính; và hệ Dionysian (thần Dionysus), vốn thiên về sự hỗn mang, say đắm và sức sống mãnh liệt. Apollo là vị thần của Âm nhạc, Nghệ thuật, Ánh sáng và Tri thức; và đối với Nietzsche, xung năng Apollonian là nguồn gốc chính của cái đẹp. Nó được đặc trưng bởi trật tự, sự rõ ràng, sự cá thể hóa và sự tiết chế có chừng mực. Đối với tôi, điêu khắc Hy Lạp và tranh vẽ của các Bậc thầy Vĩ đại (Great Masters) đại diện tốt nhất cho xung năng này. Đó không chỉ là những hình khối cổ điển của chúng, mà còn có một sức mạnh, một sự vững chãi ở đó. Hãy nghĩ đến những nhà soạn nhạc cổ điển vĩ đại: Haydn, Mozart, và Beethoven ở một mức độ nào đó.
Mặt khác, Dionysus là vị thần của rượu vang, sự ngây ngất tôn giáo và cơn điên cuồng trong nghi lễ. Quan điểm văn hóa Dionysian hoàn toàn đối lập với quan điểm Apollonian. Xung năng này, hoàn toàn khác biệt. Trong thuật ngữ âm nhạc cổ điển, tôi nghĩ đến Robert Schumann với các nhân vật Florestan và Eusebius của ông. Và Meister Raro, người đã cố gắng thu hẹp khoảng cách này nhiều thập kỷ trước Nietzsche.
Nietzsche đã viết về điều này trong bối cảnh không phải của âm nhạc mà là của sân khấu, trong cuốn sách đầu tay của ông – Sự ra đời của Bi kịch (The Birth of Tragedy), năm 1872. Nietzsche thời trẻ lập luận rằng văn hóa phương Tây đã thiên vị xung năng Apollonian kể từ thời Hy Lạp cổ đại và điều này gây bất lợi cho chính nó. Ông không nhắm đến một cuộc lột xác theo kiểu Dionysian mà là một sự tái cân bằng. Trong nỗ lực đó, ông đã đưa ra lý lẽ cho việc gạt bỏ đạo đức, trật tự, thậm chí cả ý thức và cảm giác về bản ngã như một cách để phục hồi tính chân thực và ý nghĩa sâu sắc hơn. Vào thời điểm đó, Nietzsche đang chịu ảnh hưởng của Richard Wagner và người vợ sắp cưới của Wagner, Cosima.
Khi còn là sinh viên đại học, tôi đã bị mê hoặc bởi hệ Dionysian, tôi nghĩ nhiều sinh viên đại học cũng vậy, mặc dù ít người trí thức hóa nó hơn. Trong một bài tiểu luận xuất bản 14 năm sau “Sự ra đời của Bi kịch”, Nietzsche viết rằng cuốn sách đó “viết dở, nặng nề, đáng xấu hổ, điên cuồng về hình ảnh và rối rắm về hình ảnh”. Khoảng ba năm sau đó, ông phát điên. Bạn hãy tự rút ra kết luận cho riêng mình.
Tôi sẽ quay lại sự phân định rạch ròi giữa Apollonian/Dionysian sau.
Thương hiệu Goldmund SA
Goldmund được sinh ra tại Pháp, từ Architectures et Physiques Appliquées, công ty đã phát minh ra tonearm tracking tiếp tuyến đầu tiên, tay cần cũng chính là sản phẩm đầu tiên của Goldmund, mẫu T3. Michel Reverchon, một người đam mê hi-fi và là nhân viên của IBM, đã tham gia vào việc tiếp thị T3 thông qua Mark Levinson. Năm 1980, Reverchon mua lại Goldmund và chuyển trụ sở đến Thụy Sĩ, “để hưởng lợi từ tay nghề thủ công chính xác của địa phương này.” (Trích dẫn này và các trích dẫn sau là từ một nguồn tin giấu tên nhưng rõ ràng là rất am hiểu về Goldmund, được cung cấp qua Randy Bingham từ nhà phân phối Rhythm Distribution).
Tại Thụy Sĩ, Reverchon “đã tập hợp các chuyên gia về âm học, điện tử và cơ khí. Họ đã phát triển những sản phẩm huyền thoại như mâm đĩa than Reference cùng với chuyên gia Pierre Lurné và mẫu loa Apologue”. Apologue là mẫu loa Goldmund đa khối cổ điển, được “thiết kế bởi Claudio Rotta Loria với sự hướng dẫn về điện âm từ Christian Yvon”. Goldmund vẫn sản xuất và bán loa Apologue, chắc chắn là đã được sửa đổi nhiều.
Nhắc đến mâm đĩa than Reference: Năm 2007, để kỷ niệm 25 năm mẫu Reference gốc, Goldmund đã giới thiệu Reference II, được bán với mức giá kinh ngạc là 300.000 USD, chắc chắn biến nó thành mâm đĩa than đắt nhất được bán vào thời điểm đó, có lẽ là với một khoảng cách lớn. (Điều này là 5 năm trước khi TechDAS phát hành Air Force One và 12 năm trước mẫu Swedish Audio Technology XD1, cả hai đều có giá thấp hơn đáng kể khi ra mắt so với Goldmund). Goldmund có một lịch sử lâu đời trong việc kinh doanh các thiết bị hi-fi đắt tiền, đẳng cấp xa xỉ.
Vào cuối những năm 1980, Goldmund chuyển sang làm ampli. Trong nhiều năm, ampli Goldmund (và các thiết bị điện tử khác) gắn với dòng “Mimesis”. Một chiếc ampli Mimesis 3 đã được sử dụng trong cuộc so sánh mù khét tiếng của Stereophile giữa các preamp Audio Research SP9 và SP1. John Atkinson đã review mẫu Mimesis 8 vào năm 1991.
Năm 2018, quyền quản lý Goldmund và sau đó là quyền sở hữu,được chuyển từ Reverchon, người đang bị bệnh, sang Johan Segalia, con rể của ông. Công ty chuyển đến một cơ sở mới ở Geneva. Goldmund đã chỉ định Rhythm làm nhà phân phối tại Bắc Mỹ vào tháng 1 năm 2024. Đầu năm, vào ngày 8 tháng 4, ba người bạn trẻ, thân thiết lâu năm, Marius Chapel – CEO; Gaspar Baldunciel – CCO và Paul Tétaz – COO, đã tiếp quản công ty. Ba người cùng chia sẻ quyền sở hữu và phục vụ trong ban điều hành.
Sau đó vào ngày 1 tháng 10 năm 2025—Michel Reverchon đã qua đời. Đó là một kỷ nguyên mới cho Goldmund.
TELOS
Từ tiếng Hy Lạp “télos” có nghĩa là “kết thúc, mục đích, mục tiêu”. Với Aristotle, đó là nguyên nhân cuối cùng và lý do tối hậu mà một sự vật tồn tại hoặc được thực hiện. Từ này thú vị ở cách nó kết hợp cả nguồn gốc và kết quả: télos vừa là mục tiêu vừa là nguyên nhân. Nó gợi ý một định mệnh cần được hoàn thành, đại diện cùng lúc cho định mệnh và sự hoàn thành của định mệnh đó.
Khi télos được viết hoa và mất dấu trọng âm, nó mang hai ý nghĩa liên quan đến Goldmund. Telos là một công nghệ cốt lõi của ampli Goldmund và là tên dòng ampli Goldmund sử dụng công nghệ đó.
Telos, công nghệ, được ra mắt vào những năm 1990 và đã được tinh chỉnh trong suốt 30 năm kể từ đó. Các ampli dựa trên công nghệ Telos “thực hiện việc kiểm soát loa chính xác theo hai cách chính.” Thứ nhất, chúng cung cấp công suất dồi dào và sạch sẽ. Thứ hai, chúng kiểm soát “chủ động” các củ loa tần số thấp, một phần bằng cách “hạ thấp triệt để trở kháng đầu ra, cho phép ampli tăng cường độ vi động (microdynamics) và ngăn chặn hiện tượng méo “overshoot” của loa woofer lớn, do đó loại bỏ các tần số thấp ‘rền’ (boomy) thiếu tự nhiên và không được kiểm soát, duy trì sự trung thực tuyệt đối của âm thanh.”
The Telos 2800
Một cặp ampli Goldmund Telos 2800, mà tôi đã nghe trong vài tuần qua, có giá 290.000 USD. Điều đáng chú ý nhất là nó nằm chính xác ở giữa dòng sản phẩm monoblock của Goldmund, vốn vừa được nâng cấp, là mẫu đầu bảng 8800 có giá gây choáng 790.000 USD/cặp. Goldmund 8800 được định mức công suất 1400W ở trở kháng 8 ohm.
Telos 2800 là người kế nhiệm của Telos 2500 NextGen. Thay đổi lớn nhất với thế hệ mới này, mẫu 2800 và các ampli khác chính là bộ cấp nguồn đã “được tối ưu hóa để đạt hiệu suất cao hơn, công suất đầu ra tăng lên và dự trữ năng lượng lớn hơn đáng kể”. Các thông số kỹ thuật cho biết mỗi khối monoblock 2800 có tổng điện dung 109.600µF, một con số mạnh mẽ dù không phải là cao nhất trong ngành. Việc tăng cường bộ cấp nguồn “đảm bảo phản hồi tức thời một cách mượt mà giữa các mức âm lượng cao và thấp, dẫn đến dải động được cải thiện đáng kể. Kết quả là, ampli có thể xử lý sự tăng giảm âm lượng nhanh chóng một cách chính xác, không có nguy cơ bão hòa. Điều này loại bỏ sự méo tiếng không mong muốn và đảm bảo rằng ampli tái tạo âm nhạc một cách trung thực với sự rõ ràng và kiểm soát tuyệt đối, bảo toàn sự thuần khiết của âm thanh gốc”.
Một số tính từ trong trích dẫn đó “sự trung thực, sự rõ ràng, sự kiểm soát” lại làm tôi nhớ đến sự phân chia Apollonian–Dionysian, nghiêng hẳn về phía Apollonian.
Monoblock Telos 2800 hoạt động ở mạch Class AB. Gác lại các cách tiếp cận “bias trượt” khác nhau, các mạch Class AB được đặc trưng bởi một dòng bias xác định phạm vi công suất mà ampli duy trì ở Class A. Goldmund không chia sẻ con số đó, thay vào đó chỉ vào các thông số méo tiếng: “Những gì chúng tôi đảm bảo là mức méo [hài tổng] và [méo giao thoa] tối thiểu, bất kể biên độ công suất của loa”. Méo tiếng, theo đó, cả méo hài và méo giao thoa, được kỳ vọng sẽ duy trì ở mức thấp ở mọi mức công suất đầu ra cho đến khi clipping. Goldmund chỉ định méo hài THD+N không tải là dưới 0,05%, 20Hz–20kHz ở đầu ra 30V và méo giao thoa không tải (SMPTE) cũng ở mức 0,05%. Các giá trị với tải hữu hạn không được chỉ định. Tôi mong chờ các phép đo đạc của JA (John Atkinson).
Vào thời điểm mà nhiều nhà sản xuất đang bán các thiết bị cách ly rung động để sử dụng cùng sản phẩm của họ, Goldmund sử dụng khái niệm “nối đất cơ học” (mechanical grounding), bắt nguồn từ mâm đĩa than Studio từ những năm 1970. Nếu tôi hiểu đúng và nó có vẻ khá đơn giản, nối đất cơ học có nghĩa là đảm bảo sự liên kết cơ học mạnh mẽ với mặt đất (trái đất), giúp tăng đáng kể khối lượng hiệu dụng của ampli để biên độ rung động giảm đi nhiều. Cách tiếp cận như vậy hoạt động tốt nhất (đây là bình luận của tôi, không phải của Goldmund) khi sản phẩm được đặt trên nền đất vững chắc, chẳng hạn không phải trên sàn gỗ treo bị rung, vì nối đất cơ học có nghĩa là rung động có thể truyền theo cả hai chiều.
Đáng ngưỡng mộ là mục tiêu âm thanh của Goldmund là không có âm thanh (no sound), “biểu tượng của sự trong suốt tuyệt đối. Điều này có nghĩa là mục tiêu các hệ thống âm thanh của chúng tôi là không đưa bất kỳ màu âm nhân tạo, nhiễu, hay méo tiếng nào vào tín hiệu nguồn. Chúng không khuếch đại hay làm dịu đi các tần số nhất định để tạo ra âm thanh ấm hơn hay sáng hơn, cũng không che giấu những khiếm khuyết bằng các cải tiến nhân tạo. Thay vào đó, chúng hoạt động như một phương tiện trung tính hoàn hảo, tái tạo trung thực mọi sắc thái, kết cấu và chi tiết chính xác như khi nó được thu trong bản ghi gốc. Điều này đạt được thông qua quản lý nhiệt hiệu quả, mức nhiễu, rung động, méo hài và méo giao thoa gần như bằng không, cùng một dải động cực rộng”. Đây là những gì tôi hy vọng từ một cặp ampli ở cấp độ và mức giá này. Bản thân sự hoàn hảo là một khái niệm Apollonian.
Trải nghiệm thực tế
Telos 2800 đáng chú ý vì sức nặng và sự vững chãi của nó, khi tôi biết số serial nằm ở dưới đáy, nghĩa là tôi phải nghiêng chúng đủ xa để đọc số bên dưới. Mặc dù chiều cao chassis thấp hơn so với chiều rộng và chiều sâu, nhưng trên một chân đế, ampli Telos 2800 có kích thước hoàn hảo, chúng trông gần như hình lập phương. Có lẽ đây không phải là lần đầu tiên tôi viết điều này về một khối monoblock nhưng sự góc cạnh và khối lượng giống một tòa nhà của chúng làm tôi nghĩ đến khối đá monolith trong phim 2001: A Space Odyssey. (Còn gì có thể Apollonian hơn thế?) Các vách nhôm dày một centimet có vẻ “chết” (về mặt âm học), không cộng hưởng. Giả sử được nối đất đúng cách, những vách này cũng sẽ chắn nhiễu EMI.
Khi kết nối ampli, ngay lập tức tôi nhận thấy một tấm tản nhiệt bao phủ phía sau khung máy ngoại trừ một bảng hẹp nơi các kết nối, sự sắp xếp đó làm cho việc kết nối các đầu jack càng cua hơi khó khăn một chút, nhưng vẫn xoay xở được. Cùng với mạch Class-AB, cấu hình tản nhiệt này hoạt động tốt trong việc giải nhiệt: khi nghỉ hoặc khi hoạt động, mặt trên của ampli vẫn mát, mát đến mức tôi để các đĩa vinyl lên trên mà không lo ngại gì. Ngoại trừ một vùng hơi ấm lên một chút, ngay cả tấm tản nhiệt phía sau cũng vẫn mát khi chạm vào.
Đặc điểm rõ ràng nhất của mặt trước là một màn hình hiển thị đơn giản với văn bản màu cam dạng điểm và một cặp hình chữ nhật, một xanh lá, một cam. Độ sáng của màn hình có thể điều chỉnh từ 100% (không quá chói) xuống 20%, nó không thể tắt hoàn toàn, điều này cũng ổn. Tôi thích nhìn thấy một dấu hiệu nào đó cho biết sản phẩm đang bật, khi nó đang hoạt động.
Để khởi động Telos 2800, bạn nhấn giữ đồng thời hai nút vuông nông. Các nút này màu đen, trên nền đen: Chúng khó nhìn thấy trong ánh sáng mờ. Điều đó không sao vì Telos 2800 chạy rất mát và có vẻ tiết kiệm năng lượng, bạn có thể để nó bật mọi lúc. Một menu đơn giản cho phép bạn chọn đầu vào và điều chỉnh mức gain cho mỗi đầu vào theo các bước 3dB, từ –9dB đến 9dB. Bạn cũng có thể tắt tiếng (mute) đầu ra.
Tính năng đáng ngạc nhiên nhất của Telos 2800 đó là có lựa chọn ngõ vào kỹ thuật số (digital). Có một đầu vào và đầu ra S/PDIF qua cổng RCA ở mặt sau. Goldmund tin vào việc giữ tín hiệu ở dạng kỹ thuật số càng lâu càng tốt. Đây là lời giải thích từ Goldmund: “Các preamplifier của chúng tôi có các đầu ra kỹ thuật số có thể cấu hình để cấp tín hiệu cho các ampli có đầu vào kỹ thuật số. Vì tín hiệu S/PDIF mang hai kênh, một cáp kỹ thuật số có thể kết nối từ bộ xử lý đến một ampli và đầu ra kỹ thuật số của ampli đó có thể nối tiếp tín hiệu đến ampli thứ hai. Thiết kế này giảm thiểu dây dẫn, duy trì độ chính xác của clock và tránh các chuyển đổi D/A bổ sung.”
Trải nghiệm nghe
Nietzsche thì có liên quan gì đến giá của hạt đậu hay ampli monoblock?
Khuynh hướng Apollonian được đặc trưng bởi trật tự, sự cá thể hóa, vẻ đẹp, lý trí, sự tiết chế. Tôi từng đọc rằng Nietzsche coi tất cả âm nhạc là Dionysian nhưng điều đó có vẻ sai đối với tôi: Chẳng phải Apollo là vị thần của âm nhạc sao? Mozart, Haydn, Beethoven thời kỳ đầu được đặc trưng bởi trật tự và sự tiết chế. Với tôi, đó là Apollo thuần túy. (Beethoven thời kỳ sau, theo tôi, chính là về sự phân định rạch ròi này, tìm kiếm sự giải quyết của nó, mặc dù chính Nietzsche thấy “Ode to Joy” là sự tôn vinh của xung năng Dionysian).
Nietzsche tìm kiếm một sự tái cân bằng, nhưng các ampli mono Telos 2800, đối với tôi, là Apollo thuần túy: uy quyền, kiểm soát, trật tự, tiết chế. Trong mắt và tai của tâm trí tôi, có một cái gì đó giống như thần thánh về tính Apollonian, một sức mạnh thuần khiết, một sự trơ lì như pha lê, kim cương, đá granite.
Mozart nghe tuyệt vời qua những chiếc ampli này nhưng đừng hiểu lầm tôi nói rằng những ampli này chỉ tốt với Mozart hay Haydn, hay thậm chí chỉ nhạc cổ điển. (Thực tế, hầu hết nhạc Mozart và Haydn không tận dụng hết được dải trầm đáng gờm của những chiếc amp này). Các ampli Telos trình diễn mọi loại nhạc với cùng một cảm giác về trật tự và kiểm soát sự tiết chế, dường như chạm khắc âm nhạc từ khối pha lê trong suốt, rắn chắc. Gác lại cam kết của Goldmund về sự trong suốt, những chiếc ampli này làm nhiều hơn là chỉ tái hiện âm nhạc một cách trung thực và chính xác. Chúng nâng tầm, làm rắn rỏi và tái hiện âm nhạc trong thạch anh. Có lẽ đó là sự trong suốt và tôi chưa bao giờ nghe nó theo cách đó trước đây. Tôi nhớ đến khái niệm của Herb Reichert về các hương vị khác nhau của sự trong suốt. Đây là sự trong suốt làm sắc nét và rắn rỏi hóa trong khi vẫn duy trì đặc tính cơ bản.
Như một bài kiểm tra, tôi đã nghe I Against I của Bad Brains, một bản tái bản vinyl đầu đời mã số SST 065. (Bản I Against I gốc được master bởi Bob Ludwig.) Chất lượng pha lê đó, dải trầm đầy đặn và cảm giác về uy quyền về sự tự tin cộng với lối chơi rõ ràng mạch lạc của các nhạc công làm cho mớ hỗn độn tuyệt vời này trở nên dễ tiếp cận hơn so với khi nghe bằng những bộ khuếch đại kém “tài” hơn. Một hệ thống Apollonian có thể tái hiện âm nhạc Dionysian một cách hoàn toàn ổn.
Một số ca sĩ pop nhất quyết khẳng định rằng tất cả là về tiếng bass (all about that bass). Gác lại chuyện giải phẫu phụ nữ sang một bên, đây là nơi sự tiết chế, một từ tôi đã dùng hơn một lần, phát huy tác dụng. Tiếng bass được mang lại bởi hệ thống này với cặp 2800 nắm quyền chỉ huy, là có chừng mực với một cảm giác về sức mạnh được kìm giữ. Nếu bạn thường xuyên đi nghe hòa nhạc giao hưởng và có chỗ ngồi tốt, bạn sẽ biết chính xác tôi muốn nói gì.
Đã từng có thời gian việc theo đuổi công suất đòi hỏi một sự đánh đổi: tốc độ và uy quyền không đi đôi với nhau. Thường thì chúng vẫn không đi cùng nhau. Nhưng Telos 2800 gây ấn tượng với tôi là nhanh, rất nhanh, ở hai khía cạnh: nó không bao giờ làm chậm nhịp độ âm nhạc và tái hiện các đoạn chuyển tiếp (transients) sắc nét tuyệt đối.
Trí nhớ âm thanh nổi tiếng là kém nhưng đây là những chiếc ampli tĩnh nhất mà tôi nhớ từng nghe trong hệ thống của mình. Thật thú vị khi việc hạ thấp nhiễu nền (nếu đó là những gì tôi đang không nghe thấy) thậm chí vượt quá mức lẽ ra đã không thể nghe thấy lại có thể làm âm nhạc nghe hay hơn.
Nhưng nó có thể. Hơn nữa, Telos 2800 sở hữu phẩm chất hiếm, làm cho những màn trình diễn lớn có vẻ ít ồn ào hơn, bạn nhận được tất cả lợi thế của âm lượng tăng thêm về quy mô, uy quyền, cảm giác kinh ngạc mà không có cảm giác khó chịu của sự ồn ào.
Nếu bạn đã đọc một vài bài review của tôi về thiết bị điện tử high-end, bạn biết rằng một khía cạnh của âm thanh mà tôi nhạy cảm là đặc tính “điện tử”, có thể cản trở tính hiện thực, đặc biệt là với nhạc cụ mộc được thu âm tốt. Đó là một trong những cách chính để bạn phân biệt mình đang nghe nhạc thu âm chứ không phải nhạc sống. Đặc tính đó thường bị “nung” vào bản thu trong phòng thu nhưng thường xuyên đến mức nào? Trong suốt thời gian review, tôi thấy mình nhận ra sự tự nhiên, sự vắng mặt của bất kỳ đặc tính điện tử nào trong các bản thu lạ và quen, những bản thu mà tôi từng cho rằng đã bị dính đặc tính đó. Ở khía cạnh này, Goldmund Telos 2800 cũng là thứ tốt nhất tôi từng trải nghiệm.
Một sự gắn kết dần dần
Dù bạn là một reviewer hay một người tiêu dùng hi-fi, hoặc cả hai, thông thường sự quan tâm của bạn đối với âm nhạc sẽ được làm mới khi bạn thêm một món gì đó mới vào hệ thống. Đó là sự kết hợp của cải thiện âm thanh thực tế và sự gia tăng endorphin chúng ta có được từ những món đồ mới. Một phần của cảm giác đó, có lẽ là phần do endorphin tạo ra. phai nhạt theo thời gian, trong khi sự cải thiện thực tế tiếp tục mang lại cho chúng ta niềm vui.
Với những chiếc ampli Goldmund này, tôi đã có một trải nghiệm khác biệt một cách thú vị. Khi tôi đưa chúng vào hệ thống, tôi nghe thấy những thay đổi và tôi nghe thấy âm thanh xuất sắc nhưng không có cảm giác râm ran đó. Sau đó, qua thời gian nhiều tuần một sự “mê hoặc” đã phát triển. Mỗi ngày trôi qua, tôi thấy mình không muốn tắt nhạc đi. Tôi để nó bật làm nền, chơi ở mức âm lượng thấp hoặc vừa phải. Ngay cả ở mức độ nhạc nền, âm nhạc đã mang lại… sự bình yên, sự an ủi, sự giải tỏa khỏi căng thẳng? Có lẽ đây là lý do tại sao vào một ngày trong thời gian nghe thử, khi vợ tôi đi vắng, tôi thức dậy sớm. Đêm trước, thay vì tắt hệ thống, tôi đã vặn nhỏ âm lượng và để nó stream nhạc, sử dụng tính năng “radio” trong Innuos Sense. Khi tôi bước ra khỏi phòng ngủ sáng hôm đó, bản “Ode to Joy” đang ở cao trào. Ngay cả khi chơi ở mức thấp như vậy, âm nhạc vẫn hân hoan, mãnh liệt. Đó là một ngày tốt lành.
Tôi không thể loại trừ khả năng sự thay đổi này liên quan đến một loại sinh học khác, một mức độ hormone nào đó tăng hoặc giảm chậm theo thời gian nhưng sự hấp dẫn đối với hệ thống của tôi và bất cứ bản nhạc nào nó đang chơi có vẻ đủ thật và nó vẫn còn đó. Ngay cả khi nguyên nhân trực tiếp không phải là những chiếc ampli, chúng là một phần của hệ thống đã tạo điều kiện cho sự mê hoặc này.
Một vài độc giả sẽ bác bỏ bài review về thiết bài này ngay lập tức vì mức giá quá khủng khiếp. Theo một cách nào đó, tôi hiểu: tôi vừa cải tạo một ngôi nhà với giá không cao hơn bao nhiêu, thêm cả một tầng lầu. Tuy nhiên, tôi không chia sẻ quan điểm đó, vì tôi biết rằng mặc dù mình không thể chi trả cho các thiết bị hi-fi ở mức giá này, nhưng ai đó có thể và họ đánh giá giá trị khác với tôi. Đối với phần lớn dân số, những gì tôi thường xuyên chi tiêu cho việc tái tạo âm nhạc cải thiện đã là nực cười. Mọi người đều có một giới hạn và nó được đặt ra một phần bởi khả năng tài chính của chúng ta.
Cũng có những người ngoài kia, những người đam mê hi-fi, nghĩ rằng các thiết bị như những chiếc ampli Telos này là những món đồ trang trí cho người giàu, không dành cho những audiophile nghiêm túc. Họ đã sai. Giá trị là câu hỏi về các hệ giá trị, nhưng bất kể bạn đứng về phía nào, chất lượng vẫn hiện diện ở đây.
(Về sau trong cuộc đời, quan điểm của Nietzsche đã thay đổi. Ông trở nên chỉ trích xu hướng của văn hóa Đức trong việc đề cao sự ủy mị, theo một nghĩa nào đó đây là sự bác bỏ Dionysian, hoặc ít nhất là một sự định nghĩa lại. Nhưng ông luôn tôn vinh Beethoven vì đã phá vỡ chủ nghĩa cổ điển.)
Danh sách thiết bị phối ghép
Nguồn analog: mâm than SME Model 35; Kim: Ortofon Verismo, Lyra Etna λ Lambda
Nguồn digital: music server Innuos ZENith Next-Gen, D/A CH Precision C1.2
Preamplifiers: Pass Laboratories XP-32 (line); Pass Laboratories XP-27 phono.
Power amplifiers: Pass Laboratories XA60.8 monoblocks.
Loa: Wilson Audio Specialties Alexx V; Marten Mingus Septet.




